QUI TỲ THANG kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí bổ huyết, trị các chứng suy yếu về tạng tỳ, như kém ăn, người gầy, da xanh, sắc mặt trắng bệch

Chủ nhật - 26/04/2020 02:09
QUI TỲ THANG kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí bổ huyết, trị các chứng suy yếu về tạng tỳ, như kém ăn, người gầy, da xanh, sắc mặt trắng bệch,môi tái, móng tay, chân nhợt nhạt, hoa mắt, chóng mặt, hay choáng váng (huyễn vựng), tinh thần mệt mỏi, mất ngủ, ngủ hay mơ mộng, hồi hộp, hay quên.
QUI TỲ THANG kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí bổ huyết
QUI TỲ THANG kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí bổ huyết

QUI TỲ THANG

( Tế sinh phương)

Thành phần:

Nhân sâm ( Đảng sâm) 12g

Phục thần 12g

Toan táo nhân sao 12 - 20g

Viễn chí 4 - 6g

Hoàng kỳ 12g

Mộc hương 4g

Bạch truật 12g

Long nhãn nhục 12g

Đương qui 8 - 12g

Chích thảo 4g

Sinh khương 3 lát

Đại táo 2 - 3 quả

Cách dùng: sắc nước uống. Có thể hòa với mật làm thành hoàn, mỗi lần uống 8 - 12g.

Tác dụng: Kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí bổ huyết.

Giải thích bài thuốc:

Bài này gồm 2 bài "Tứ quân tử thang" và " Đương qui bổ huyết thang" gia Long nhãn nhục, Toan táo nhân, Viễn chí, Mộc hương, Đại táo là 1 bài thuốc thường dùng để trị chứng tâm tỳ hư tổn. Trong bài:

  • Sâm Linh Truật Thảo ( Tứ quân) bổ khí kiện tỳ để sinh huyết là chủ dược.
  • Đương qui, Hoàng kỳ bổ khí sinh huyết.
  • Long nhãn, Táo nhân, Viễn chí dưỡng tâm an thần.
  • Mộc hương lý khí ôn tỳ.
  • Sinh khương, Đại táo điều hòa vinh vệ.

Các vị thuốc hợp lại có tác dụng ích khí kiện tỳ bổ huyết dưỡng tâm.

Ứng dụng lâm sàng:

  1. Bài thuốc này chủ yếu trị các bệnh suy nhược có hội chứng bệnh lý tâm tỳ lưỡng hư, khí huyết bất túc sinh ra các triệu chứng mất ngủ, chán ăn, hay quên, tim hồi hộp, cơ thể mỏi mệt, sắc mặt vàng bủng, môi lưỡi nhợt, mạch yếu thường gặp trong các chứng suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh.
  2. Trường hợp xuất huyết trong bệnh lóet dạ dày tá tràng có hội chứng khí huyết bất túc có thể dùng bài này để chữa; bỏ các vị Mộc hương, Viễn chí gia A giao, Địa du, Trắc bá diệp, Hoa hòe để tăng cường tác dụng chỉ huyết.
  3. Trường hợp phụ nữ kinh kéo dài hoặc sanh nhiều cơ thể suy nhược hoặc sau khi mắc bệnh lâu, thời kỳ hồi phục ăn ngủ không ngon, cơ thể hư nhược đều có thể dùng bài này để chữa có kết quả tốt.

Phụ phương:

DƯỠNG VINH QUY TỲ THANG

( Hải thượng Y tôn tâm lĩnh)

Thành phần:

Thục địa 20 - 30g

Táo nhân 4g

Phục linh 6g

Ngưu tất 8g

Mạch môn ( sao với gạo) 8g

Bạch truật 12g

Bạch thược 4 - 8g

Ngũ vị tử 6 - 8g

Nhục quế 3 - 4g

Tác dụng: Chữa tất cả các chứng lao thương phát sốt ho, thổ huyết, hâm hấp sốt, biếng ăn, mỏi mệt, mạch thốn, hồng xích, nhược. Đây là bài thuốc chủ yếu chữa khí huyết hư tổn.

ĐẠI BỒ TÂM TỲ KHÍ HUYẾT PHƯƠNG

( Hải thượng Y tôn tâm lĩnh)

Thành phần:

Táo nhân, Đương qui, Bạch truật, Bạch thược, Phục thần, Nhân sâm, Viễn chí, Nhục quế, Ngũ vị ( tác giả không ghi liều lượng).

Cách dùng: sắc nước uống khi còn ấm.

Chủ trị: chứng nguyên khí đại hư, đột nhiên ngã lăn ra, sinh ra chứng thoát nên uống bài này cùng vớ Bát vị hoàn để vừa bổ thủy hỏa để sinh khí vừa bổ âm để sinh huyết.

 


Quy tỳ - phương thuốc quý kiện tỳ, nhiếp huyết
Trong y học cổ truyền (YHCT), phương Quy tỳ thường được sử dụng dưới dạng nước sắc, hoặc viên hoàn, để trị các chứng suy yếu về tạng tỳ, như kém ăn, người gầy, da xanh, sắc mặt trắng bệch,môi tái, móng tay, chân nhợt nhạt, hoa mắt, chóng mặt, hay choáng váng (huyễn vựng), tinh thần mệt mỏi, mất ngủ, ngủ hay mơ mộng, hồi hộp, hay quên.
Ngoài ra còn trị các chứng do mất máu, như chảy máu cam, chấn thương... dẫn đến toàn thân suy nhược.

Phương Quy tỳ gồm: nhân sâm hoặc đảng sâm 12g, bạch truật, hoàng kỳ, phục linh, đương quy mỗi vị 12 g; táo nhân chế 16g; viễn chí, long nhãn, mỗi vị 8g; mộc hương, cam thảo, sinh khương, mỗi vị 4g; đại táo 3 quả. Sắc uống ngày một thang. Sắc 3 lần, gộp lại chia 3 lần uống, sau bữa ăn khoảng 1,5 giờ. Hoặc làm hoàn, ngày 6g hoàn cứng, hoặc 1 hoàn mềm, ngày uống 3 lần, sau bữa ăn với nước ấm, hoặc nước hãm gừng tươi (vì trong công thức viên hoàn không có sinh khương).

Công năng của phương Quy tỳ theo YHCT
Nhân sâm (hoặc đẳng sâm), đại táo, hoàng kỳ, bạch truật tác dụng ích khí, kiện tỳ. Mộc hương, bạch phục linh hóa thấp ở tỳ, vị, giúp cho kiện tỳ tốt hơn. Đương quy và long nhãn dưỡng huyết. Hắc táo nhân, long nhãn tác dụng an thần. Sinh khương giúp cho phương thuốc ấm hơn. Cam thảo bổ khí, dẫn khí, vị của phương thuốc vào các kinh tương ứng.

Tóm lại, phương Quy tỳ có công năng chung là ích khí, bổ huyết, kiện tỳ dưỡng tâm. Theo YHCT, ngoài các chức năng như ích khí, chủ cơ nhục, tạng tỳ, còn có chức năng nhiếp huyết, tức duy trì cho huyết lưu thông trong lòng mạch. Nói một cách khác là ngăn ngừa xuất huyết.

Tác dụng của phương Quy tỳ theo YHHĐ
Nhân sâm: Trên động vật thí nghiệm, nhân sâm có tác dụng làm tăng thể trọng, tăng lượng huyết tương và protein, cải thiện tình trạng thiếu máu. Với thần kinh trung ương, làm tăng trí nhớ, nâng cao năng lực phản ứng, tăng năng lực phân biệt, liều nhỏ tác dụng hưng phấn, liều lớn có tác dụng ức chế. Ngoài ra còn có tác dụng trấn tĩnh, trấn thống. Với cơ tim, lượng nhỏ làm hưng phấn, lượng lớn lại ức chế. Nâng cao sự thích ứng với những tác nhân có hại, như nhiệt độ cao, nhiệt độ thấp, mất máu, trúng độc, tia phóng xạ... Ngoài ra còn có tác dụng hạ đường huyết, tăng hormon tuyến thượng thận.

Saponin trong nhân sâm có tác dụng tan huyết, kháng tế bào ung thư, chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ. Độc tính của nhân sâm tương đối thấp. Nếu dùng quá liều gây ngứa, hoa mắt hoặc xuất huyết.

Nhân sâm được sử dụng cho thể hư thoát, chân tay lạnh, mạch yếu, tỳ hư kém ăn, phế hư sinh khí suyễn, tân thương (tân dịch hao tổn), khẩu khát, nội nhiệt tiêu khát, suy nhược cơ thể do bệnh lâu ngày, dương nuy, tử cung lạnh, tim đập yếu.

Hoàng kỳ: Tác dụng lợi niệu thời gian duy trì dài, hàm lượng natri trong nước tiểu tăng, ngay cả với những động vật đã gây viêm thận; tác dụng hạ đường huyết, hạ huyết áp và cường tim, kháng loét vị tràng, trấn tĩnh, chống lão hóa; tác dụng co bóp tử cung. Ngoài ra còn ức chế lỵ trực khuẩn, liên, trực khuẩn bạch hầu, cầu khuẩn, song cầu khuẩn viêm phổi... Hoàng kỳ được dùng bổ khí trung tiêu, chống sa giãn một số cơ quan tiêu hóa và tiết niệu...; tiêu phù thũng, trị ra mồ hôi, giải độc trừ mủ khi viêm nhiễm...

Bạch truật: Tác dụng lợi niệu sau 2 giờ uống là cao nhất và duy trì 1,5 giờ; lượng natri bài xuất tăng gấp 32 lần. Tác dụng hạ đường huyết, giảm đau, thũng. Dầu bạch truật có tác dụng trấn tĩnh, tăng vận động tự phát của chuột, tăng thể lực, tăng năng lực kháng bệnh, ức chế một số nấm ngoài da... Bạch truật dùng kích thích tiêu hóa, trị phù thũng, trị mồ hôi, đặc biệt mồ hôi trộm, an thai, cầm máu.

Mộc hương: Tác dụng giải kinh, giảm co thắt cơ trơn ruột, khí quản, mạch máu; hạ huyết áp, lợi tiểu; ức chế trực khuẩn phó thương hàn, lỵ, trực khuẩn mủ xanh, vi khuẩn viêm phổi, liên cầu khuẩn... Trên thực tế, mộc hương trị bụng đầy trướng, đau bụng, tiêu hóa kém; sau tả lỵ.

Bạch linh: Tác dụng lợi tiểu, tăng miễn dịch, tăng chỉ số thực bào ở chuột, kháng ung thư do polysacharide, an thần, hạ đường huyết, bảo vệ gan và chống loét dạ dày, ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn biến hình.

Bạch linh là phần màu trắng, bên trong phần xích linh (từ vỏ vào) và bên ngoài phần phục thần (từ lõi giữ ra) của nấm phục linh. Bạch linh trị bí tiểu tiện, tiểu buốt dắt, hoặc tỳ khí hư nhược.

Đương quy: Thành phần tan trong dầu có tác dụng ức chế tử cung và tăng huyết áp. Thành phần tan trong nước gây hưng phấn tử cung và hạ huyết áp. Tác dụng đối kháng với chứng thiếu vitamin E; hạ mỡ máu; chống xơ vữa động mạch. Tinh dầu đương quy trấn tĩnh, tiêu viêm. Nước sắc đương quy ức chế lỵ trực khuẩn, liên cầu khuẩn... Đương quy dùng trị các chứng thiếu máu; đặc biệt vừa thiếu máu, vừa ứ tích huyết ở phụ nữ bế kinh; trị táo bón do huyết hư, nhu động ruột kém.

Long nhãn: Nước sắc long nhãn có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ, nha bào của một số nấm gây bệnh.  Theo YHCT, long nhãn bổ tâm tỳ, ích khí huyết. Trị tâm tỳ lưỡng hư, khí huyết hư tổn; suy nhược thần kinh do tâm huyết hư gây mất ngủ, hồi hộp, hay quên.

Viễn chí: Tác dụng long đờm, chủ yếu ở vỏ rễ; gây ngủ và chống co giật. Thành phần Senegin có trong viễn chí có tác dụng tán huyết, phần vỏ mạnh hơn phần gỗ. Dịch chiết cồn ức chế vi khuẩn Gr +, trực khuẩn lỵ, thương hàn. Saponin kích thích dạ dày gây buồn nôn, kích thích tử cung có thai hay không có thai.

Theo YHCT, viễn chí có tác dụng ninh tâm an thần, khứ đàm khai khiếu, tiêu ung thũng. Trị hồi hộp, mất ngủ, tâm thận bất giao, đàm trở tâm khiếu, động kinh, hàn đàm khái thấu, ung nhọt sưng, vú sưng đau.

Táo nhân: Tác dụng an thần gây ngủ; giảm đau, hạ sốt; hưng phấn tử cung; hạ huyết áp và chống loạn nhịp tim.

Tóm lại, phương Quy tỳ là phương thuốc quý, được YHCT sử dụng trị các chứng do tâm, tỳ hư, khí huyết hư, với biểu hiện: cảm giác lo sợ, thường xuyên bị đánh trống ngực, hồi hộp, mất ngủ, ngủ hay mê, hơi thở ngắn, hay mệt mỏi đặc biệt khi gắng sức; kém ăn, bụng hay trướng gầy sút cân, da xanh. Ngoài ra còn trị mất máu, thiếu máu. Dạng thuốc sắc và viên hoàn đều kiêng cho người đau bụng tiêu chảy và phụ nữ có thai. Dạng hoàn kiêng cho người bị đái tháo đường.

GS.TS. PHẠM XUÂN SINH
 Từ khóa: QUI TỲ THANG

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Dịch vụ Chúng Tôi
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập33
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm31
  • Hôm nay4,491
  • Tháng hiện tại70,947
  • Tổng lượt truy cập8,303,748

Cây chùm ngây (Moringa Oleifera)

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây